Người Bru-Vân Kiều tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ Me (ngữ hệ Nam Á), gần gũi với Tiếng Tà Ôi, Cơ Tu, thuộc số dân cư được coi là có nguồn gốc lâu đời nhất ở vùng Trường Sơn (các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế, Quảng Bình).
Họ canh tác rẫy, trồng lúa là chính, nông cụ đơn giản: rìu, dao quắm, gậy trỉa, cái nạo cỏ có lưỡi cong; cách thức sản xuất: phát rừng, đốt, rồi chọc lỗ gieo hạt giống, làm cỏ, tuốt lúa bằng tay; đa canh - xen canh trên từng đám rẫy kéo dài hàng năm từ tháng 3 đến tháng 10. Trồng trọt, chăn nuôi, săn bắn, đánh bắt cá… cung cấp nhiều nguồn lợi cho đời sống người Bru-Vân Kiều. Nghề thủ công không phát triển. Quan hệ trao đổi hàng hoá chủ yếu với người Việt và người Lào, họ dùng các loại gùi, đeo gùi sau lưng, 2 quai gùi quàng vào đôi vai.
Người Bru-Vân Kiều thích các món nướng, canh thường nấu lẫn rau với gạo và cá hoặc ếch nhái. Họ ăn cơm tẻ thường ngày, lễ hội dùng cơm nếp nấu trong ống tre tươi; quen ăn bốc, uống nước lã, rượu cần (nay rượu cất). Nam nữ đều hút thuốc lá, tẩu bằng đất nung hoặc làm từ cây le. Trang phục: nam đóng khố, nữ mặc váy, áo chui đầu, không có tay. Vải chủ yếu mua ở Lào. Thời nay y phục giống người Việt đã trở thành phổ biến, nhưng tập quán mặc váy vẫn được bảo lưu. Ðồ trang sức là các loại vòng ở cổ, tay, khuyên tai. Xưa đàn ông, đàn bà đều búi tóc, riêng thanh nữ búi lệch tóc về phía bên trái, khi đã có chồng, tóc được búi trên đỉnh đầu. Họ ở nhà sàn, bếp lửa bố trí ngay trên sàn nhà, kiêng nằm ngang sàn. Mỗi gia đình có nhà riêng, theo chế độ phụ quyền, người đàn ông cao tuổi là chủ gia đình. Mỗi làng là một điểm cư trú quần tụ.
Người Bru-Vân Kiều chú trọng thờ cúng tổ tiên, có bàn thờ thành viên trong gia đình, còn có nhà thờ chung của dòng họ trong một hoặc vài làng. Lễ cúng có đâm trâu là lễ quan trọng nhất. Tết đến từng làng sớm muộn khác nhau, nhưng đều vào thời gian sau kỳ tuốt lúa.
Người Bru-Vân Kiều có nhiều truyện cổ được truyền miệng, kể về sự tích các dòng họ, nguồn gốc dân tộc... Có các điệu hát như: Oát (đối đáp giao duyên); Prdoak (chúc vui, chúc tụng khi có việc mừng); Xươt (hát vui trong các sinh hoạt vui đùa đông người); Roai tol, Roai trong (hát kể lể nặng nề, oán trách); Adâng kon (hát ru trẻ con). Trong đám ma và lễ hội đâm trâu thường có múa kết hợp với hát. Nhạc cụ phổ biến là: cồng, chiêng, đàn Achung, Plư, Ta-lư, kèn Amam, Ta-ral, khèn Pi, nhị, đàn môi, trống, sáo...
Bạn muốn bật/tắt chế độ toàn màn hình?