Mỹ thuật ứng dụng

Xuất xứ/dân tộc

Tày

Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai). Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai). Chữ nôm Tày xây dựng trên mẫu tự tượng hình, gần giống chữ nôm Việt ra đời khoảng thế kỷ XV được dùng để ghi chép truyện thơ, bài hát, bài cúng.

Người Tày cư trú ở vùng thung lũng các tỉnh Ðông Bắc, từ Quảng Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang đến Lào Cai, Yên Bái. Họ thích sống thành bản làng đông đúc, nhiều bản có tới hàng trăm nóc nhà. Ngôi nhà truyền thống của người Tày là nhà sàn có bộ sườn làm theo kiểu vì kèo 4, 5, 6 hoặc 7 hàng cột. Nhà có 2 hoặc 4 mái lợp ngói, tranh hay lá cọ. Xung quanh nhà thưng ván gỗ hoặc che bằng liếp nứa.

Người Tày là cư dân nông nghiệp có truyền thống làm ruộng nước, từ lâu đời đã biết thâm canh và áp dụng rộng rãi các biện pháp thuỷ lợi như đào mương, bắc máng, đắp phai, làm cọn lấy nước tưới ruộng. Họ có tập quán đập lúa ở ngoài đồng trên những máng gỗ mà họ gọi là loỏng rồi mới dùng dậu gánh thóc về nhà. Ngoài lúa nước người Tày còn trồng lúa khô, hoa màu, cây ăn quả... Chăn nuôi phát triển với nhiều loại gia súc, gia cầm nhưng cách nuôi thả rông cho đến nay vẫn còn khá phổ biến. Các nghề thủ công gia đình được chú ý. Nổi tiếng nhất là nghề dệt thổ cẩm với nhiều loại hoa văn đẹp và độc đáo. Chợ là một hoạt động kinh tế quan trọng.

Người Tày ăn tẻ là chính, ngoài ra còn ăn ngô và nếp, hầu như gia đình nào cũng có ninh và chõ đồ xôi. Trong các ngày tết, ngày lễ thường làm nhiều loại bánh trái, đặc biệt có bánh nhân trứng kiến và cốm.

Trang phục của người Tày làm từ vải sợi bông tự dệt, nhuộm chàm, hầu như không thêu thùa, trang trí. Phụ nữ mặc váy hoặc quần, có áo cánh ngắn ở bên trong và áo dài ở bên ngoài. Một số nơi nữ giới quấn khăn hình chóp trên đỉnh đầu hay hình mái nhà.

Với những thứ nhỏ, gọn người Tày thường cho vào dậu để gánh hoặc cho vào túi vải để đeo trên vai, còn đối với những thứ to, cồng kềnh thì dùng sức người khiêng vác hoặc dùng trâu kéo. Ngoài ra, họ còn dùng, mảng để chuyên chở.

Người Tày tổ chức gia đình nhỏ, phụ hệ, người chồng có vai trò quyết định. Người Tày chủ yếu thờ cúng tổ tiên. Bàn thờ đặt ở vị trí trung tâm trong nhà. Ngoài ra còn thờ cúng thổ công, vua bếp, bà mụ. Họ có nhiều nghi lễ trong tang ma, có tục để tang người chết trong 3 năm, sau đưa lên bàn thờ tổ tiên và cúng giỗ.

Người Tày có nhiều lễ hội gắn với hoạt động nông nghiệp: Hội xuống đồng (hội lùng tùng), hội cốm, lễ lẩu then và nhiều ngày tết trong năm.

Ðàn tính là nhạc cụ được sử dụng phổ biến ở người Tày. Bầu đàn làm bằng vỏ quả bầu khô, cần đàn bằng gỗ, dây đàn bằng tơ. Ðàn có thể có 2 hoặc 3 dây. Ðàn tính thường dùng trong nghi lễ, đệm cho hát then, ngày nay còn dùng biểu diễn trên sân khấu. Hát lượn và hát then là hai loại hình dân ca phổ biến. Tác phẩm văn học và truyện thơ bằng chữ nôm Tày, tục ngữ, ca dao rất phong phú. Nghệ thuật trang trí sắc sảo, tinh tế trên thổ cẩm, gài màu vào họa tiết, tạo hình ngôi sao, hoa lê, hoa nhuội, lá mía… mang nội dung về tín ngưỡng, tôn giáo, gợi hình ảnh về vũ trụ thiên nhiên.