Tiếng Xơ Ðăng thuộc ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á), gần với tiếng Hrê, Ba Na, Gié Triêng, giữa các nhóm có một số từ vựng khác nhau. Chữ viết dùng hệ chữ cái La-tinh, mới hình thành cách đây mấy chục năm. Người Xơ Ðăng thuộc số cư dân sinh tụ lâu đời ở Trường Sơn - Tây Nguyên và vùng lân cận thuộc miền núi của Quảng Nam (huyện Trà My, Phước Sơn), Quảng Ngãi (huyện Tây Sơn).
Người Xơ Đăng một bộ phận trồng lúa nước, làm đất bằng cách lùa đàn trâu dẫm quần và dùng cuốc đẽo từ gỗ (nay đã có cuốc lưỡi sắt); Còn lại, kinh tế rẫy đóng vai trò chủ đạo, với công cụ và cách thức canh tác tương tự như những tộc người khác trong khu vực (đốt lửa, chọc lỗ, tra hạt, dùng tay thu hoạch tuốt lúa). Ngoài ra họ còn trồng kê, ngô, sắn, bầu, bí, thuốc lá, dưa, dứa, chuối, mía, trồng quế (người Ca Dong). Vật nuôi truyền thống là trâu, dê, lợn, chó, gà. Việc hái lượm, săn bắn, kiếm cá có ý nghĩa kinh tế không nhỏ. Người Xơ Ðăng có nghề đan lát mây tre, rèn dệt, đã biết đãi vàng sa khoáng. Họ ưa thích trao đổi vật trực tiếp, nay đã dùng tiền.
Người Xơ Ðăng ăn cơm tẻ, cơm nếp với muối ớt và các thức kiếm được từ rừng; khi cúng bái mới có thịt gia súc, gia cầm. Họ uống nước lã (nay nhiều người đã đun chín), rượu cần, thích hút thuốc và ăn trầu. Nam đóng khố, ở trần. Nữ mặc váy, áo. Trời lạnh dùng tấm vải choàng người. Vải cổ truyền Xơ Ðăng có nền màu trắng mộc của sợi hoặc màu đen, hoa văn ít và chủ yếu thường dùng các màu đen, trắng, đỏ. Ngày nay đàn ông thường mặc quần áo như người Việt. Họ ở nhà sàn, trước kia nhà dài, thường cả đại gia đình ở chung (nay phổ biến hình thức tách hộ riêng). Nhà ở trong làng được bố trí theo tập quán từng vùng: có nơi quây quần vây quanh nhà rông ở giữa, có nơi dựng lớp lớp ngang triền đất và không có nhà rông. Gia đình được tổ chức vừa theo mẫu hệ vừa theo phụ hệ, là gia đình lớn. Nam nữ bình đẳng.
Người Xơ đăng thờ nhiều thần, coi trọng cúng lễ những vì thần liên quan đến nương rẫy: thần sấm sét, thần mặt trời, thần núi, thần lúa, thần nước. Người Xơ đăng có tục mài răng cửa, răng nanh hàm trên. Lễ tết hàng năm có Tết Lửa, Tết Nước, có lễ đâm trâu thường trong tháng Giêng (dương lịch), kéo dài 3-4 ngày.
Người Xơ Ðăng có nhiều loại nhạc cụ: đàn, nhị, sáo dọc, ống vỗ kloongbút, trống, chiêng, cồng, tù và, ống gõ, giàn ống hoạt động nhờ sức nước... có loại dùng giải trí, có loại dùng trong lễ hội và có sự khác nhau ít nhiều giữa các nhóm. Những điệu hát phổ biến là: hát đối đáp của trai gái, hát của người lớn tuổi, hát ru. Trong một số dịp lễ hội, đồng bào trình diễn múa: có điệu múa riêng cho nam, riêng cho nữ, cũng có điệu múa cả nam, nữ cùng tham gia. Truyện cổ Xơ Ðăng phong phú và đặc sắc.
Bạn muốn bật/tắt chế độ toàn màn hình?